thien-su-thich-nhat-hanh

Trò chuyện với thiền sư Thích Nhất Hạnh xung quanh vấn nạn nạo phá thai

Tâm linh

“Nếu chúng ta có chánh niệm, biết xử lý giây phút hiện tại một cách sáng suốt thì làm gì có chuyện phải phá thai”.

Năm 2013, tôi đã theo chân Thiền sư Thích Nhất Hạnh suốt 3 tháng trời trong chuyến hoằng pháp đạo Phật dọc nước Mỹ. Tôi đã thực hiện nhiều cuộc phỏng vấn Ngài xoay quanh chủ đề hạnh phúc, làm thế nào để có hạnh phúc đích thực? Một trong những chủ đề mà tôi đặc biệt quan tâm là vấn nạn nạo phá thai, hệ quả của lối sống buông thả của lớp trẻ. Bằng tuệ giác của một nhà tu hành đắc đạo, thiền sư Thích Nhất Hạnh đã có những cái nhìn, đánh giá và kiến giải rất sâu sắc về thực trạng nhức nhối này.

“Vấn đề đặt ra là không phải nên hay không nên phá thai. Nếu để cho tình trạng này xảy ra rồi mới đặt câu hỏi thì có thể khó khăn gấp trăm, ngàn lần”.

Nhà báo Hoàng Anh Sướng: Thưa thiền sư! Gần đây, ở Việt Nam, người ta đã thực hiện cuộc thăm dò các bác sĩ chuyên ngành phụ sản (cả nhà nước lẫn tư nhân) thì 83% xác nhận rằng: ở lứa tuổi từ 15-19, nhiều em đã đi nạo phá thai, trong đó, có nhiều em mới 13 tuổi, đang học lớp 6. Rõ ràng, lớp trẻ hiện nay rất coi nhẹ chuyện giữ gìn trinh tiết, yêu là hiến dâng, là quan hệ xác thịt, thậm chí không yêu cũng quan hệ tình dục. Ngài bình luận gì về chuyện này?

Thiền sư Thích Nhất Hạnh: Tình dục mà không có tình yêu gọi là “tình dục rỗng” (Empty sex). Tình dục rỗng rất phổ biến trong xã hội chúng ta và là nguyên nhân gây nên nhiều đau khổ cho giới trẻ, tàn phá thân tâm chúng. Và thảm kịch sẽ còn lan rộng cho đến về sau dưới dạng trầm cảm, rối loạn tâm thần, tự tử… Nhiều người trẻ không thấy được sự liên hệ mật thiết giữa tình dục rỗng với những rối loạn về tâm sinh lý trong họ. Những gì xảy ra cho thân thể đều ảnh hưởng đến tâm lý và ngược lại. Tâm dựa vào thân để biểu hiện và thân phải dựa vào tâm để tồn tại, để thực sự là một thân thể sống. Trong truyền thống văn hóa Việt ta, thân với tâm là “Nhất như”, tức là nếu ta không tôn kính thân thế người yêu thì cũng không tôn kính được tâm hồn người ấy. Yêu nhau là giữ gìn cho nhau, kính trọng nhau. Khi sự rẻ rúng xem thường xảy ra thì tình yêu đích thực không còn. Thân thể cũng như tâm hồn. Có những nổi niềm sâu kín trong tâm, chúng ta chỉ chia sẻ với người tri kỉ. Thân thế ta cũng vậy, có những vùng thiên liêng, ta không muốn ai chạm tới, ngoài người ta yêu, ta tin, ta muốn sống trọn đời, trọn kiếp.

Trong tình yêu lớn và cao quý, bất cứ lời nói và cử chỉ nào cũng phải biểu lộ sự tương kính. Người con trai phải tôn trọng người con gái mình yêu, cả thân thể lẫn tâm hồn. Người con gái biết giữ gìn, cũng là biết làm người yêu thêm tương kính, nuôi dưỡng hạnh phúc lâu dài về sau. Hãy hiểu, thương và tương kính người yêu của mình, cũng chính là đem hạnh phúc đến cho người và cho mình vậy. Tôn kính là bản chất của tình yêu thương.

Nhà báo Hoàng Anh Sướng:  Chính vì sự dễ dãi, cẩu thả trong quan hệ tình dục mà tình trạng nạo phá thai ở Việt Nam hiện nay đang ở mức báo động, đặt biệt là tỉ lệ nạo phá thai ở tuổi vị thành niên. Mỗi năm tại Việt Nam, trung bình có khoảng 1,2 triệu ca nạo phá thai, cao nhất khu vực Đông Nam Á và xếp thứ 5 trên thế giới. Song điều đáng sợ là tỉ lệ nạo phá thai lại rơi chủ yếu vào lứa tuổi vị thành niên. Thiền sư có suy nghĩ gì về thực trạng đáng báo động này? Là một thầy tu, thiền sư ủng hộ hay không ủng hộ chuyện nạo phá thai?

Thiền sư Thích Nhất Hạnh: Trước tiên, tôi muốn nói rằng, nếu chúng ta không kiểm soát sinh nở, chúng ta sẽ không giải quyết được nhiều vấn đề, trong đó có vấn đề xóa đói giảm nghèo, về vấn đề chiến tranh. Hạn chế và kiểm soát sinh nở là chuyện chúng ta phải làm thôi. Vấn đề đặt ra là không phải nên hay không nên phá thai. Nếu để cho tình trạng này xảy ra rồi mới đặt câu hỏi thì có thể khó khăn gấp trăm, ngàn lần. Phương pháp thực tập phòng ngừa quan trọng hơn phương pháp thực tập đối trị. Chánh niệm có nghĩa là mình biết những gì đang xảy ra, khi mình làm gì, phải đo lường hậu quả. Khi hành xử không có chánh niệm, chúng ta sẽ tự gây ra khó khăn cho chúng ta trong tương lai. Trong giây phút hiện tại mình phải chịu trách nhiệm một trăm phần trăm cho nên để tránh phá thai, mình đừng để cho cái thai thành hình. Có biết bao nhiêu phương pháp ngăn ngừa cho tình trạng đó không xảy ra. Nếu chúng ta có chánh niệm, nếu chúng ta biết xử lý giây phút hiện tại một cách sáng suốt thì làm gì có chuyện phải phá thai. Vì vậy, không cần đặt vấn đề phá thai. Trên toàn thế giới, người ta đã vận động cho phụ nữ có quyền phá thai. Một ông linh mục rất nổi tiếng, cha Berigan, cũng đi vận động xin chữ ký để người phụ nữ có được quyền đó. Bản kiến nghị đã gởi tới cho tôi nhưng tôi không ký. Không phải là tôi không yểm trợ, không thấy được nổi khổ, niềm đau của người phụ nữ nhưng tôi thấy rằng, đó là cách giải quyết trên ngọn mà không giải quyết dưới gốc. Giải quyết ở dưới gốc là phương pháp thực tập chánh niệm, và người đàn bà cũng có trách nhiệm. Nếu đàn ông và đàn bà đều có thực tập chánh niệm rồi thì chuyện có thai mà mình không muốn, sẽ không xảy ra. Vì vậy vấn đề là tu tập chứ không phải đòi hỏi một quyền. Về vấn đề phá thai thì tôi có cái tuệ giác đó.

Nhà báo Hoàng Anh Sướng: Nhưng thưa thiền sư! Tôi được biết, trong số những phụ nữ đi nạo phá thai ấy, nhiều bào thai là hậu quả của những vụ hãm hiếp. Ngay hôm qua, tại tu viện Lộc Uyển của ngài ở tiểu bang Califonia, tôi đã nghe những câu chuyện buốt lòng của nhiều phụ nữ Việt Nam bị hải tặc hãm hiếp trên thuyền khi họ vượt biển. Đau đớn vô cùng. Nỗi đau dằng dai, dày vò suốt mấy chục năm ròng. Thiền sư có cách nào để hóa giải nổi đau ấy cho họ?

Thiền sư Thích Nhất Hạnh: Về chuyện những thuyền nhân bị hải tặc hãm hiếp trên biển cả, tôi cũng đã nghe nhiều rồi. Vấn đề của họ thực sự là vấn đề rất lớn. Hình ảnh ghê rợn của tên hải tặc hãm hiếp nó in sâu vào tâm khảm, dầu không phá thai. Đến khi sinh, đứa con vẫn mang hình ảnh của người cha mà mình đã từng coi như kẻ thù. Giữa mình với đứa con, hạnh phúc không được trọn vẹn. Một số người đã được bác sĩ tâm lý trị liệu, mục sư, tu sĩ cho phép phá thai nhưng tôi nghĩ rằng, đó không phải là cách duy nhất. Nếu sử dụng phương pháp quán chiếu của đạo Phật thì mình có thể đi xa hơn, mình có thể phát khởi ra tâm từ bi ngay cả với người hải tặc đã hãm hiếp mình.

Nhà báo Hoàng Anh Sướng: Có nghĩa là yêu thương ngay kẻ đã hãm hiếp mình, gây cho mình bao đau đớn, tủi nhục?

Thiền sư Thích Nhất Hạnh: Tôi đã từng quan niệm như vậy. Vào một buổi sáng, tôi nhận được thư từ SongKhla (Thái Lan) báo tin: Một em bé mười hai tuổi bị làm nhục phải nhảy xuống biển sâu tự vẫn. Cha đứa bé mới can thiệp cũng bị hải tặc liệng xuống biển chết luôn. Nghe xong, tôi thấy tim mình đau nhức. Ngày hôm đó, tôi đi thiền hành rất lâu ở trong rừng. Buổi tối, tôi ngồi thiền, tôi quán chiếu, tôi thấy, nếu hai mươi năm trước, tôi được sinh ra trên bờ biển Thái Lan trong một gia đình ngư dân rất nghèo đói. Cha tôi không có học thức, mẹ tôi chưa bao giờ biết cách nuôi con. Suốt cuộc đời cha tôi nghèo khổ, đói khát, bị áp lực, mẹ tôi cũng không được giáo dục gì hết thì lớn lên, tôi sẽ là một đứa trẻ hoang. Một ngày nào đó, một đứa bạn chạy tới, bảo: “Bọn thuyền nhân hay đem vàng theo lắm, mình chỉ cần làm một chuyến thôi là có thể thoát khỏi thân phận nghèo đói, áp bức”. Tôi là một người chưa từng được đi học, chưa từng được giáo dục về lòng từ bi nên tôi lắng nghe theo lời người bạn đó. Khi tôi ra biển làm hải tặc, tôi thấy những người bạn khác, hãm hiếp phụ nữ, con nít. Ở đây, không có cảnh sát và tôi chưa từng biết tình dục là gì, nhân cơ hội đó tôi mới hãm hiếp một đứa con nít. Nếu anh có súng trên tay, anh bắn thì tôi chết nhưng cả cuộc đời, chưa có ai giáo dục tôi. Những nhà kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội chưa ai giúp tôi, giúp cha tôi, mẹ tôi. Tôi, một đứa con lớn lên như một cây hoang trong rừng.

Khi thấy được hình ảnh đó, tôi bắt đầu thấy tội nghiệp những người hải tặc kia. Giả sử, nếu tôi sinh ra trong cái hoàn cảnh đó, có thể hai mươi năm sau, tôi đã trở thành hải tặc. Quán chiếu như vậy thì tự nhiên trong trái tim tôi ứa ra một giọt nước từ bi và đêm đó tôi tha thứ được cho người hải tặc. Nếu mình là người thiền quán giỏi, mình quán chiếu người hải tặc đã từng hãm hiếp mình, mình thấy được rằng người đó cũng là nạn nhân của nghèo đói, của bóc lột, của thiếu giáo dục, tự nhiên trái tim mình cũng sẽ ứa ra giọt nước từ bi, mình có thể sẽ tha thứ và chấp nhận được người đó. Mình phát nguyện sau này, nếu gặp những đứa bé trai ở trong tình trạng đó, mình sẽ tìm cách giúp để cho chúng không trở thành hải tặc trong tương lai. Nếu ngày hôm nay không ai làm gì để giúp những đứa bé sinh ra trong miền duyên hải Thái Lan, hai mươi năm sau, hàng trăm đứa sẽ trở thành hải tặc. Khi có cái thấy, hiểu và thương đó, tự nhiên hận thù, đau khổ sẽ tan biến như tuyết dưới ánh sáng mặt trời. Mình có thể chấp nhận được người hải tặc đó, mình có khả năng giữ lại cái thai của mình, thương yêu nó và thương yêu cha nó. Cha nó là một người con trai bất hạnh chưa bao giờ được hiểu, chưa bao giờ được thương, chưa bao giờ được có một cơ hội trong xã hội này.

Nhà báo Hoàng Anh Sướng: Chúng ta đã bàn vẽ vấn đề lạm dụng tình dục. Hiện nay ở Việt Nam, còn một thực trạng kinh hoàng hơn nữa đó là chuyện nhiều trẻ em, thậm chí chỉ 4-5 tuổi, bị người thân, hàng xóm láng giềng, thậm chí, là người ruột thịt, hãm hiếp, lạm dụng tình dục. Với tuệ giác của đạo Phật, thiền sư có giải pháp nào để hạn chế thực trạng đau lòng này không?

Thiền sư Thích Nhất Hạnh: Trong phong tục tập quán của người Việt, bạn không được sờ lên đầu người khác nếu bạn không biết rõ về người đó. Đầu là một trong những nơi linh thiêng của thân thể, là nơi để thờ tổ tiên và thờ Bụt. Có những bộ phận khác của thân thể cũng linh thiêng mà mọi người không được chạm tới. Cũng giống như trong Thành Nội có Tử Cấm Thành là nơi mà gia đình hoàng tộc đang ở, bạn không được đến những nơi đó. Nếu xâm phạm, bạn sẽ bị bắt và bị chém đầu. Tương tự như vậy, trên cơ thể con người, có những vùng mà bạn không được phép chạm đến. Nếu bạn không tôn trọng, chạm đến phần thân thể đó thì có nghĩa là bạn đang xâm nhập vào Tử Cấm Thành. Khi một đứa trẻ bị lạm dụng tình dục, nó sẽ đau khổ cùng cực. Người đó đã xâm phạm đến Tử Cấm Thành của nó và nó không đủ khả năng để tự vệ. Có những đứa trẻ đã bị lạm dụng ở tuổi lên tám, lên chín và chúng cực kỳ đau khổ. Chúng trách móc cha mẹ đã không bảo vệ chúng và những liên hệ của chúng với cha mẹ trở nên rất khó khăn. Kể đó là những mối liên hệ với bạn bè và người yêu trong tương lai của chúng cũng sẽ rất khó khăn. Những vết thương sẽ cứ còn đó hoài.

Tình trạng lạm dụng tình dục ở trẻ em đang tràn ngập khắp nơi. Ở Mỹ, có 5 đến 15% bé trai và 15 đến 35% bé gái bị lạm dụng tình dục. Như vậy là quá nhiều. Khi một đứa trẻ bị lạm dụng như vậy, nó sẽ đau khổ suốt đời, bởi vì nó thấy thân thể nó đã không được tôn trọng. Trong gia đình và trường học, chúng ta cần dạy cho những đứa trẻ biết kính trọng chính mình, biết kính trọng thân thể mình và kính trọng thân thể của người khác. Nếu là một nhà lãnh đạo tâm linh, là một chính trị gia, là phụ huynh, là giáo viên hoặc nhà giáo dục, xin các bạn hãy quan tâm về điều này. Chúng ta có thể học những lời Bụt dạy để tổ chức đời sống của mình trong gia đình, trường học và xã hội như thế nào mà ta được bảo hộ và con em chúng ta cũng luôn luôn được bảo hộ.

Nhiều bạn trẻ bây giờ chỉ biết tình dục mà không biết tình yêu

Nhà báo Hoàng Anh Sướng: Trong những khóa tu thiền sư vừa tổ chức ở Mỹ, tôi thấy có rất nhiều thiền sinh, vốn là nạn nhân của nạn cưỡng bức tình dục từ khi còn nhỏ tuổi, đã xin tham vấn riêng thiền sư. Tôi biết, nỗi đau ấy quá lớn, họ không thế tâm sự trước đại chúng, càng không dễ dàng chuyển hóa, trị liệu. Thiền sư đã nói gì với họ?

Thiền sư Thích Nhất Hạnh: Những người bị quấy rối tình dục khi còn nhỏ vẫn tiếp tục đau khổ rất nhiều. Những gì họ nghĩ, nói, và làm đều mang dấu tích của vết thương đó. Họ muốn chuyển hóa mình và làm lành vết thương. Cách hay nhất để làm việc này chính là hành trì giới thứ ba – một trong năm giới luật căn bản của người tu hành, xuất gia. (Giới thứ nhất: bảo vệ sự sống. Giới thứ hai: chia thời gian và tài vật cho người khác, không ăn cắp, ăn trộm. Giới thứ ba: không lạm dụng tình dục. Giới thứ tư: ái ngữ và lắng nghe. Giới thứ năm: tiêu thụ trong chánh niệm (chỉ tiêu thủ những sản phẩm mang lại sự an lạc cho tâm mình, không rượu chè, ma túy). Từ kinh nghiệm của chính mình, họ có thể nói: “Là nạn nhân của việc lạm dụng tình dục, tôi nguyện bảo vệ tất cả mọi trẻ em và người lớn khỏi nạn xâm phạm tình dục”. Khổ, đau của ta biến thành một loại năng lượng tích cực,  giúp ta trở thành một vị Bồ Tát. Ta nguyện bảo vệ mọi trẻ em cũng như mọi người. Và ta cũng nguyện giúp những người đã lợi dụng tình dục trẻ em, vì họ chính là những người bệnh, cần sự giúp đỡ. Họ có thể là ông, bà, cha,mẹ, cô, chú, bác. Họ cần phải được theo dõi, giúp đỡ, và, nếu có thể, trị lành. Những kẻ làm ta đau khổ trở thành đối tượng của tình thương và sự bảo hộ của chính ta. Khi ta quyết tâm giữ giới thứ ba này, năng lượng phát sinh trong tâm ta giúp ta trở thành một vị Bồ Tát, và sự chuyển hóa này có thể chữa lành cho ta thậm chí trước khi ta bắt đầu thực tập.

Nhà báo Hoàng Anh Sướng: Trong tình yêu đích thực có cả tình nhục dục. Song thú vui nhục dục, sự ham muốn tình dục đơn thuần lại không phải là tình yêu. Thiền sư có nghĩ vậy không?

Thiền sư Thích Nhất Hạnh: Quan hệ giới tính là sự kết hợp giữa thân thể và tâm hồn. Đây là một cuộc gặp gỡ hết sức quan trọng, không thể hành động một cách tùy tiện, bê bối được. Theo tuệ giác của đạo Bụt, thân và tâm không tách biệt. Nếu thân bị ô nhiễm thì tâm cũng trở nên chán chường, ô nhiễm và thương tích. Nếu thân được nguyên vẹn thì tâm cũng được nguyên vẹn. Trong giới tiếp hiện, có đề cập đến việc giữ thân như việc gìn giữ tâm và ngược lại. Có lẽ trong quá khứ, quan niệm về sự gìn giữ thân và tâm giữa Tây phương và Đông phương không khác biệt là bao nhiêu. Thông thường, mình chỉ chia sẻ những gì sâu kín nhất trong tâm mình với người mà mình tin tưởng, với người tri kỷ. Đối với thân thể của mình cũng vậy. Nếu không có tình yêu sâu sắc với một người thì mình không bao giờ phó thác cái thân này cho người ấy. Do vậy, tình yêu trở thành rất thiêng liêng. Nó nuôi dưỡng được cả hai phía yêu nhau. Nếu coi xác thân người kia là dụng cụ phục vụ cho sự khoái lạc của mình thì tình yêu bị đánh mất đi yếu tố linh thiêng.

Người Đông phương rất coi trọng việc giữ gìn thân thể của mình. Khi bị lạm dụng trong chuyện tình dục, họ có cảm tưởng như bị đánh mất đi những gì rất quý giá của cuộc đời mình. Đối với những em bé gái, bé trai khi bị lạm dụng, các em đau khổ rất nhiều, và niềm đau ấy có thể theo đuổi suốt cuộc đời của các em. Cơ thể của mình có những vùng linh thiêng mà không có ai được quyền chạm tới. Sự toàn vẹn của cơ thể có liên hệ tới sự toàn vẹn của tâm hồn. Cái thấy “thân tâm nhất như” rất quan trọng. Thân nằm trong tâm và tâm nằm trong thân. Nếu không kính trọng thân thể thì không thể nào kính trọng được tâm hồn. Thân thể không thể là một món đồ chơi của chính mình và người khác. Muốn xây dựng tình yêu chân thật thì phải thực tập giới thứ ba. Đi tìm thú vui trong tình dục mà phá đổ những yếu tố của tình thương đích thực, là phạm giới. Phải thấy rằng, sự an ninh và toàn vẹn của người kia là sự an ninh và toàn vẹn của chính mình. Phải thấy rằng, cái thân và cái tâm của người kia là nơi linh thiêng, và cần phải tôn trọng thì lúc đó tình thương chân thật mới thật sự có mặt. Sự toàn vẹn của cơ thể liên hệ tới sự toàn vẹn của tâm hồn. Với nền văn hóa xưa thì mình chỉ giao phó thân tâm cho người kia khi người ấy trở thành bạn tri kỷ của đời mình.

Tuy hai người đã cưới nhau, nhưng vẫn phải luôn luôn tôn trọng lẫn nhau, không được có cử chỉ, hành động thô lỗ với bạn hôn phối. Phải thấy, thân thể của mình cũng linh thiêng như của người kia, và mình vẫn tiếp tục khám phá ra những cái hay cái đẹp ở nơi kia thì lúc đó tình yêu mới kéo dài được. Tình yêu là một quá trình của sự khám phá, đi tìm khoái lạc trong tình dục sẽ chỉ làm phá vỡ hạnh phúc mà thôi. Tuổi trẻ bây giờ không được hướng dẫn về tình yêu. Nhà trường chỉ dạy về sinh học thôi, nên các bạn trẻ chỉ biết tình dục mà chưa kịp biết đến tình yêu. Các nhà giáo dục cần xét lại điều này. Nếu chỉ dạy cho học trò về sinh học mà không dạy về tình thương thì e rằng, cái đẹp, cái linh thiêng nơi họ sẽ bị đánh mất.

Nhà báo Hoàng Anh Sướng: Điều đáng báo động là xã hội hiện đại bây giờ đã tạo cho giới trẻ một lối sống mà thú vui nhục dục trở thành quan trọng nhất. Tại sao vậy, thưa thiền sư?

Thiền sư Thích Nhất Hạnh: Tình dục trong thời đại ngày nay đang dùng như một phương tiện để bán các mặt hàng. Nhiều quốc gia còn có cả ngành kinh doanh tình dục. Và để bán được những sản phẩm của mình, các công ty kinh doanh thường chế ra những mẫu quảng cáo làm tưới tẩm những hạt giống thèm khát trong con người. Họ muốn ta phải tiêu thụ, vì vậy trong ta ngày càng tăng trưởng thêm sự thèm muốn về thú vui nhục dục. Và chính những thú vui này sẽ hủy hoại chúng ta. Ngày xưa, việc cưới vợ lấy chồng là vấn đề của riêng họ. Đứng về phương diện tâm lý, gia đình nhỏ ngày nay không còn được vững chãi như ngày xưa nữa; nguy cơ tan vỡ của nó rất lớn. Nếu sống trong mạng lưới đại gia đình ngày xưa, mình sẽ được bảo vệ nhiều hơn. Bởi nếu mình có những quyết định bồng bột, sai đường thì sẽ được những thành viên trong gia đình, kể cả những em nhỏ của mình giúp định hướng lại. Bây giờ thì ngược lại, mình muốn làm gì thì làm, muốn đi đâu thì đi, mình không muốn nghe theo ai hết.

Trong thập niên 60 đã xảy ra một cuộc cách mạng về tình dục với sự xuất hiện của thuốc ngừa thai. Nó đã làm thay đổi xã hội rất nhiều. Phong trào này bắt đầu từ các trường đại học tại Mỹ, tại Pháp. Những cô thiếu nữ cũng đòi có tự do về tình dục. Hõ nghĩ rằng, đàn ông có tự do về tình dục, tại sao họ không được? Trước đây, người phụ nữ phải gánh chịu phần lớn hậu quả của chuyện phóng túng tình dục, còn đàn ông, sau khi xong chuyện thì phủ tay trốn chạy. Nhưng với sự xuất hiện của thuốc ngừa thai đã làm đảo lộn quan điểm của rất nhiều người về tình dục. Ban đầu, bác sĩ chỉ áp dụng thuốc ngừa thai đối với những cặp vợ chồng không muốn có con. Nhưng sau đó thì được sử dụng tràn lan, không còn mục đích rõ ràng. Cuộc cách mạng tình dục đã tạo phản ứng rất mạnh từ giới bảo thủ. Nhưng đối với những người phụ nữ trẻ thì họ thấy đây là cơ hội cho họ được giải phóng. Trong truyền thống, nếu người phụ nữ không có chồng mà có mang thì chịu sự trừng phạt rất nặng, có thể bị ném đá cho tới chết, có thể bỏ bè trôi sông. Trông khi đó, người đàn ông không bị truy cứu hoặc có thể trốn chạy. Đây là một sự bất công lớn. Năm 1962, Mỹ có 1.200.000 người dùng thuốc ngừa thai. Nhà chức trách ngăn cản phong trào này bằng cách: bác sĩ sẽ không cấp thuốc ngừa thai cho những phụ nữ không chồng. Nhưng làm vậy cũng không ngăn cản nổi phong trào này. Nhiều gia đình tan nát, vợ chồng thù hận nhau vì chuyện ngoại tình không chung thủy. Những đứa con trong những gia đình ấy rất khổ đau.

Liên hệ tình dục có thể rất đẹp nếu trong đó có niệm, định, tuệ, có tình yêu thương và sự hiểu biết lẫn nhau. Ngược lại, nó sẽ gây ra rất nhiều tai hại. Trong kinh kể rằng, khi hoàng hậu Mahamaya mang thai Bụt, bà nằm mơ thấy một con voi trắng, mang trên cái vòi của nó một đóa sen. Con voi dùng đóa sen chạm vào người bà và từ từ đi vào bụng bà một cách rất nhẹ nhàng. Sau đó, bà mang thai Siddhartha. Đó là cách người ta miêu tả về sự liên hệ tình dục, trong cung điện, trước khi Siddhartha được tượng hình: rất nhẹ nhàng và rất đẹp. Nếu không có sự đồng cảm, không có sự hiểu biết, không chia sẻ được về tâm tư tình cảm thì không có quan hệ tình dục. Ngược lại, những yếu tố này có mặt thì quan hệ thân xác và tình dục có thể trở nên thánh thiện.

Sách Nghiệp Báo Nạo Phá Thai – Hoàng Anh Sướng

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *